23/03/2017

Luật số 31/2013/QH13 ngày 19/06/2013

Ngày 19/6/2013, Quốc hội đã thông qua Luật số 31/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT.
Theo đó, nội dung sửa đổi, bổ sung liên quan đến 7/16 điều của Luật hiện hành, gồm 6 nhóm vấn đề với 27 nội dung như sau:Thứ nhất, về đối tượng không chịu thuế: Sửa đổi, bổ sung Điều 5 Luật thuế GTGT quy định về đối tượng không chịu thuế GTGT:

a) Bổ sung đối tượng không chịu thuế gồm:

– Bảo hiểm về con người, bảo hiểm nông nghiệp cho phù hợp với Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi, bổ sung năm 2010;

– Bảo hiểm tàu, thuyền, trang thiết bị và các dụng cụ cần thiết khác phục vụ trực tiếp đánh bắt thuỷ sản;

– Dịch vụ cho vay của người nộp thuế không phải là tổ chức tín dụng, bán nợ, kinh doanh ngoại tệ;

– Tài sản bảo đảm của khoản nợ bán ra của tổ chức mà Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ do Chính phủ thành lập để xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng Việt Nam;

b) Chuyển dịch vụ phục vụ công cộng về vệ sinh, thoát nước đường phố và khu dân cư thuộc đối tượng không chịu thuế sang đối tượng chịu thuế GTGT với mức thuế suất 10% để bảo đảm tính liên hoàn của thuế GTGT, doanh nghiệp được khấu trừ, hoàn thuế;

c) Chuyển đổi căn cứ để xác định hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế GTGT của hộ, cá nhân kinh doanh có thu nhập thấp từ tiêu thức thu nhập so với mức tiền lương tối thiểu sang tiêu thức doanh thu để đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với thông lệ quốc tế và bản chất của thuế GTGT. Qua tính toán, mức doanh thu để xác định hàng hoá, dịch vụ không chịu thuế của hộ, cá nhân kinh doanh là từ 100 triệu đồng/nămtrở xuống, tương đương với hơn 8 triệu đồng/tháng không phân biệt ngành nghề, địa bàn. (Nội dung sửa đổi, bổ sung thể hiện tại khoản 1 Điều 1 của Luật.)

Thứ hai, về giá tính thuế: Bổ sung quy định giá tính thuế GTGT đối với hàng hoá chịu thuế bảo vệ môi trường bao gồm cả thuế bảo vệ môi trường để phù hợp với nguyên tắc và thông lệ quốc tế về giá tính thuế GTGT là giá bán cuối cùng chưa có thuế GTGT. (Nội dung sửa đổi, bổ sung thể hiện tại khoản 2 Điều 1 của Luật.)

Thứ ba, về thuế suất thuế GTGT:

-Áp dụng thuế suất 5% đối với bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở xã hội theo quy định của Luật nhà ở.

– Hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu là hàng hóa, dịch vụ được tiêu dùng ở ngoài Việt Nam, tiêu dùng trong khu phi thuế quan và hành hoá, dịch vụ cung cấp cho khách hàng nước ngoài theo quy định của Chính phủ. (Nội dung sửa đổi, bổ sung thể hiện tại khoản 3 Điều 1 của Luật.)

Thứ tư, về ngưỡng đăng ký nộp thuế GTGT và phương pháp tính thuế:

– Bổ sung quy định cơ sở kinh doanh có doanh thu 1 tỷ đồng/năm trở lên (trừ hộ, cá nhân kinh doanh) để áp dụng phương pháp khấu trừ thuế GTGT. Doanh nghiệp có doanh thu dưới ngưỡng 1 tỷ đồng/năm phải nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, trừ trường hợp có đăng ký tự nguyện áp dụng phương pháp này. Điều kiện đăng ký tự nguyện để áp dụng phương pháp khấu trừ sẽ giao Chính phủ quy định cho phù hợp với thực tế. (Nội dung sửa đổi, bổ sung thể hiện tại khoản 4 Điều 1 của Luật.)

– Các cơ sở kinh doanh có doanh thu dưới 1 tỷ đồng/năm (trừ trường hợp tự nguyện nộp theo phương pháp khấu trừ) và hộ, cá nhân kinh doanh sẽ nộp thuế theo phương pháp trực tiếp bao gồm: (1) doanh nghiệp, HTX có doanh thu dưới mức ngưỡng nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ; (2) hộ, cá nhân kinh doanh; (3) nhà thầu nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam (trừ nhà thầu nước ngoài cung cấp hàng hoá, dịch vụ trong lĩnh vực dầu khí phải nộp thuế theo phương pháp khấu trừ theo cơ chế khấu trừ tại nguồn) và (4) tổ chức kinh tế khác.

Bổ sung quy định cách tính thuế GTGT theo tỷ lệ % trên doanh thu đối với từng lĩnh vực:

– Phân phối, cung cấp hàng hoá: 1%;

– Sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hoá, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu: 3%;

– Dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu: 5%;

– Hoạt động kinh doanh khác: 2%.

Thứ năm, về khấu trừ thuế GTGT:

– Bổ sung quy định khấu trừ thuế GTGT đầu vào không được bồi thường của hàng hoá, dịch vụ bị tổn thất;

– Bỏ khống chế thời hạn được kê khai, khấu trừ thuế GTGT đầu vào tối đa là 6 tháng trong trường hợp có sai sót kể từ tháng phát sinh hóa đơn, theo đó doanh nghiệp được kê khai bổ sung vào bất kỳ thời điểm nào trước khi cơ quan thuế công bố quyết định kiểm tra, thanh tra thuế theo quy định của Luật Quản lý thuế;

– Bỏ quy định thuế GTGT đầu vào của tài sản cố định sử dụng đồng thời cho sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT và không chịu thuế GTGT được khấu trừ toàn bộ để bảo đảm nhất quán với nguyên tắc chỉ khấu trừ thuế GTGT đầu vào sử dụng cho sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế GTGT.

Thứ sau, về hoàn thuế GTGT:

– Cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ thuế nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ hết trong tháng hoặc trong quý thì được khấu trừ vào kỳ tiếp theo; trường hợp lũy kế sau ít nhất mười hai tháng tính từ tháng đầu tiên hoặc ít nhất sau bốn quý tính từ quý đầu tiên phát sinh số thuế giá trị gia tăng chưa được khấu trừ mà vẫn còn số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ thì cơ sở kinh doanh được hoàn thuế.

Trường hợp cơ sở kinh doanh đã đăng ký nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ có dự án đầu tư mới, đang trong giai đoạn đầu tư có số thuế giá trị gia tăng của hàng hoá, dịch vụ mua vào sử dụng cho đầu tư mà chưa được khấu trừ và có số thuế còn lại từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng.

– Cơ sở kinh doanh trong tháng, quý có hàng hoá, dịch vụ xuất khẩu nếu có số thuế giá trị gia tăng đầu vào chưa được khấu trừ từ ba trăm triệu đồng trở lên thì được hoàn thuế giá trị gia tăng theo tháng, quý.

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế GTGT có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014. Riêng quy định áp dụng thuế suất 5% đối với nhà ở xã hội thực hiện từ ngày 01/7/2013.

Tải Luật số 31/2013/QH13 Tại đây.

Bài viết liên quan
Chat Facebook
  • Chào bạn!

  • Bạn cần chúng tôi tư vấn hoặc hỗ trợ thông tin gì ạ?

  • Chat ngay
error: Nội dung được bảo vệ !